Một nhân cách lớn

02:49 PM - 18/05/2019

BP - Theo sách “Đại Nam nhất thống chí”, Thượng thư Nguyễn Bá Lân sinh năm 1700, mất năm 1785, quê làng Cổ Đô, phủ Tiên Phong, trấn Sơn Tây (nay là thôn Cổ Đô, xã Cổ Đô, huyện Ba Vì, TP. Hà Nội). Quê tổ 3 đời của ông ở làng Hoài Bão, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, là người giỏi phong thủy, thích phong thủy làng Cổ Đô nên dời đến đây. Ông là người văn võ kiêm toàn, có tài “đánh  dẹp” và “vỗ yên”, nhiều lần được chúa Trịnh cử đi trị loạn: Phá tan vụ trộm cướp ở Sơn Tây và Thái Nguyên, đánh bọn Duy Mật, đánh đạo Đà Giang... Đặc biệt, ông có công lớn trong đợt trấn ải ở biên cương Cao Bằng.

Theo gia phả dòng họ Nguyễn Bá, năm 1746, bọn giặc Mạc Tam ở Trung Quốc đem quân sang chiếm đánh, cướp phá hầu hết các châu ở Cao Bằng. Thời bấy giờ, Cao Bằng có 4 châu, thì quân giặc chiếm 3 châu, chỉ duy nhất ta còn giữ được châu Thạch Lâm. Tình thế bấy giờ rất nguy kịch, quân giặc đông và được trang bị đầy đủ vũ khí tràn sang đất ta tàn phá, nhân dân trong vùng đã bỏ nhà cửa, ruộng nương thi nhau chạy loạn, một số quan trấn trị ở các châu cũng theo dân tản cư về các vùng Lạng Sơn, Bắc Kạn, Bắc Ninh, một số người vì bị ép buộc nên phải theo giặc. Vì vậy, triều đình đã cử Nguyễn Bá Lân là quan lưu thủ Hưng Hóa đang đóng dinh ở Tòng Bạt, Bất Bạt, Sơn Tây lên Cao Bằng đánh dẹp bọn giặc từ bên kia biên giới tràn sang cướp phá... Ông đã vâng mệnh chúa lĩnh một đội tả tượng gồm 170 quân sĩ và ngựa tốt lên đường. Đội quân của Nguyễn Bá Lân đi qua các địa phương thấy có nhiều dân ở Cao Bằng đến lánh nạn. Việc đầu tiên Nguyễn Bá Lân làm là ban thư sắc dụ các huyện để dẹp yên đạo tặc, tiến hành tập hợp dân để vỗ về, khuyên bảo họ trở về quê hương để đuổi giặc và mưu sống ở nơi “chôn nhau cắt rốn”.

Trong thời gian trấn ải biên cương ở Cao Bằng, Nguyễn Bá Lân đã có nhiều mưu lược, đánh bại đội quân của tên Lý Văn Tài người Tàu dấy binh ở Thông Nông đã hợp sức với các tên Quang Vũ, Thất Quý, Bát Cổ trong đội quân đạo tặc làm loạn ở Cao Bằng. Đối với dân, ông hết lòng chăm lo việc nông tang, ruộng nương làm gốc, tuyển dụng người khỏe mạnh, trai tráng để sử dụng làm quân sĩ, những người có tinh thần tốt được trợ giúp gạo, muối để dẫn đường. Với tài dụng binh và kế sách đúng đắn, Nguyễn Bá Lân đi đến đâu cũng được nhân dân đồng tình giúp sức, đồng thời qua những thông tin của nhân dân cung cấp để phân biệt được người tốt, kẻ xấu, kẻ phản nghịch chống lại nhân dân.

Khi tiến đánh các đồn lũy của giặc, với tài thiên biến vạn hóa, Nguyễn Bá Lân chỉ huy quân sĩ từ trong đánh ra, ngoài đánh vào, đặc biệt dùng tình họ hàng, anh em ruột thịt đối với những người đã trót theo giặc để vận động họ làm nội ứng cho ta. Chính vì tài thu phục người và cách đánh hiệu quả ở từng vùng, từng châu, quân ta lấy lại được toàn bộ đất Cao Bằng từng bị giặc chiếm đóng, giành thắng lợi mà không hề tổn hao xương máu của quân sĩ. Sau khi dẹp xong giặc, Nguyễn Bá Lân dùng tất cả thóc gạo, trâu, ngựa và vũ khí thu được ở các đồn lũy chia cho người dân.

Khi giặc yên, những năm trấn trị ở Cao Bằng, Nguyễn Bá Lân đã cùng quân sĩ hết lòng chăm lo cuộc sống của nhân dân, khuyến khích mọi người dân hăng say lao động sản xuất, đoàn kết để chống lại bọn trộm, cướp. Nguyễn Bá Lân còn lấy các kho của bọn tham nhũng và nhà giàu để giúp người nghèo, đồng thời tuyển dụng những quan cần mẫn giỏi chăn dân để trấn trị từng vùng, từng bản. Trong việc thực hành chính sự, ông ra lệnh miễn giảm thuế 3 lần đối với dân nghèo; các cửa ải cũ cử người coi giữ nghiêm ngặt, nhưng cho giao thương buôn bán qua lại thuận lợi, từ đó các châu ở Cao Bằng không hề bế tắc, nhân dân phấn khởi làm ăn, đời sống dần trở lại ấm no tốt đẹp hơn trước. Năm 1753, Nguyễn Bá Lân vâng chỉ về triều, nhân dân trong vùng tỏ ra rất quyến luyến, kính trọng và khâm phục vị quan có tấm lòng hiểu dân, thương dân, giúp nhân dân có cuộc sống bình yên và ai ai cũng muốn ông ở lại Cao Bằng.

Lời bàn:

Theo sử cũ, Nguyễn Bá Lân là người trọn đời mang hết tài năng và đức hạnh của mình ra giúp dân, giúp nước trên mọi cương vị, văn võ song toàn, văn hóa - giáo dục uyên bác. Dù ông ở đâu hay giữ cương vị nào cũng luôn tận tâm, tận lực với công việc. Cho nên, khi nói về sự nghiệp của Nguyễn Bá Lân, các bộ quốc sử đều khen ông là người có văn học, chất phác, thẳng thắn, mạnh dạn, dám nói, làm quan thanh liêm, cẩn thận; ra trấn Cao Bằng vỗ về nhân dân, dẹp yên giặc cướp, tỏ rõ công lao; vào triều tham dự chính sự thì giữ đúng phép luật, thẳng thắn, trung thực, là một bề tôi danh vọng, không a dua.

Với 86 tuổi đời, hơn 50 năm làm quan, trải qua nhiều trọng trách trong cung vua, phủ chúa, Nguyễn Bá Lân không chỉ là trí thức có kiến thức uyên bác, làm việc cẩn trọng, thanh liêm, chính trực, hết lòng vì dân, vì nước, mà ông còn là nhà giáo, một tác gia lớn trong nền văn học Việt Nam thế kỷ XVIII. Bài phú Nôm “Ngã ba Hạc phú” với lời văn điêu luyện, phép tắc nhuần nhuyễn, câu chữ và ý tứ độc đáo, gợi cho người đọc như đang thưởng ngoạn thiên nhiên vũ trụ đầy tươi vui và sống động, là một bài phú tiêu biểu cho phú Việt Nam, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các tác gia viết phú sau này. Vì vậy, ông được hậu thế tôn vinh là một nhân cách lớn, là tấm gương sáng cho muôn đời noi theo.

N.D

Hay!!
Họ tên:
Email:
Bình luận:
Bình luận
Hãy là người bình luận đầu tiên. Vui lòng để lại lời bình ở nội dung trên.

Tổng biên tập: Đoàn Như Viên

Giấy phép xuất bản số: 145/GP-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 25/4/2014

Bản quyền Báo Bình Phước

Tòa soạn:

Số 5 - Nguyễn Văn Linh - P. Tân Phú - TP. Đồng Xoài - Tỉnh Bình Phước

Điện thoại: 0271.3881828

Phòng Báo điện tử: 0271.3887189

Fax: 0271.3860879

Email:

toasoanbaobinhphuoc@gmail.com
baodientubinhphuoc@gmail.com

Liên hệ quảng cáo: 0271.3879452

Ghi rõ nguồn "Bình Phước Online" khi phát hành lại thông tin từ Website này